Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Đại lý Vietnam Airlines và thị trường hàng không trong nước.

Đại lý Vietnam Airlines và thị trường hàng không trong nước

Đại lý Vietnam Airlines và thị trường hàng không trong nước.

Đại lý Vietnam Airlines xin giới thiệu cùng các bạn bài viết "đại lý Vietnam Airlines và thị trường hàng không trong nước" . Trong kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu tới các bạn bài viết "đại lý Vietnam Airrlines cùng sự tăng trưởng Vietnam Airlines". Bài viết này là bài viết tiếp theo . Đại lý Vietnam Airlines rất mong nhận được sự góp ý của quý vị.


Phân tích các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng không Việt Nam -Vietnam Airlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa.Thị phần vận chuyển hàng hóa của Vietnam Airlines trong những năm gần đây đang có xu hướng suy giảm. Trong khi đó, thị phần của các đối thủ cạnh tranh chính có sự tăng trưởng đều đặn. Sự suy giảm này có thể được lý giải bởi các nguyên nhân sau:
- Số lượng hãng hàng không mới tham gia vào thị trường Việt Nam đang tăng mạnh .
- Tốc độ tăng tải cung ứng của Vietnam Airlines chưa tương ứng với tốc độ tăng của sản lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không ở Việt Nam.
Năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines trước hết được thể hiện qua sản phẩm vận chuyển hàng hóa của Vietnam Airlines so với các hãng hàng không cạnh tranh. Chất lượng sản phẩm vận tải hàng hóa được phân tích qua nhóm các yếu tố sau:
- Sự an toàn của hàng hóa trong quá trình vận chuyển 
- Thời gian vận chuyển hàng hóa 
- Lịch bay của Vietnam Airlines 
- Sự đa dạng của các sản phẩm vận chuyển 
Giá cước vận chuyển tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của một hãng hàng không. Giá cước vận chuyển của Vietnam Airlines được khách hàng đánh giá ở mức thấp so với các đối thủ cạnh tranh.
Nguyên nhân khiến giá cước vận chuyển của VNA chưa được khách hàng đánh giá cao là:
- Các loại giá chưa đa dạng 
- Giá cước vận chuyển chưa cạnh tranh 
- Chính sách giá chưa linh hoạt và mềm dẻo 
Hiện nay, Vietnam Airlines bán các dịch vụ vận chuyển hàng hóa thông qua hai kênh phân phối chính: kênh phân phối bên trong và kênh phân phối bên ngoài.
- Kênh phân phối bên trong: Kênh phân phối bên trong của Vietnam Airlines bao gồm 03 văn phòng khu vực ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam và các văn phòng đại diện, văn phòng chi nhánh ở trong và ngoài nước. 
- Kênh phân phối bên ngoài: Kênh phân phối bên ngoài của Vietnam Airlines được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống các đại lý và công ty giao nhận hàng hóa. 

Năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines còn được đánh giá thông qua hiệu quả của hoạt động bán tiếp thị so với các với các đối thủ cạnh tranh và được xem xét trên các góc độ sau:
- Khả năng tiếp cận thông tin của khách hàng 
- Trình độ nghiệp vụ và phong cách phục vụ của đội ngũ nhân viên 
- Hiệu quả giải quyết khiếu nại 
- Các chính sách quảng cáo, khuyến mại của hãng hàng không 
Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Vietnam Arlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa bao gồm:
- Môi trường chính trị 
- Môi trường kinh tế 
- Môi trường văn hóa – xã hội 
- Môi trường công nghệ 
Các yếu tố thuộc môi trường vi mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Vietnam Arlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa bao gồm:
- Rào cản xâm nhập hay rút lui khỏi thị trường 
- Sức mạnh mặc của người mua 
- Sức mạnh nhà cung cấp 
- Sức mạnh của đối thủ cạnh tranh 
- Sức mạnh của sản phẩm thay thế 
Cùng với việc gia nhập Liên minh hàng không quốc tế Sky Team, sự hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế trong nước và trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu, Vietnam Airlines đứng trước rất nhiều cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm với những cơ hội đó, Vietnam Airlines phải đối mặt với không ít thách thức, cả từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Sau đây là một số cơ hội và thách thức mà Vietnam Airlines sẽ gặp phải trong thời gian sắp tới.
Vietnam Airlines đã phải cải tiến để có đương đầu trong thế giới cạnh tranh này ,Vietnam Airlines đã được cổ phần hóa và sẽ bán đấu giá cổ phần lần đầu (IPO) ra công chúng vào ngày 14-11 tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM nghe .
Trong năm 2014, dưới sức ép của Chính phủ, quá trình cổ phần hóa đã được đẩy mạnh hơn. Chỉ trong chín tháng đầu năm đã có 71 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tức gần bằng cả năm 2013, được cổ phần hóa.
Từ nay đến hết năm 2015, dự định sẽ có năm công ty mẹ của các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) được cổ phần hóa.
Đó là các công ty mẹ của TCT Hàng không, TCT Hàng hải, TCT Sông Đà, TCT Đầu tư phát triển nhà và đô thị, TCT Công nghiệp ximăng. Tuy nhiên, trong số này hiện chỉ có Vietnam Airlines được phê duyệt phương án cổ phần hóa và tiến hành IPO vào tháng 11. 
Cổ phần hóa là một bước tiến lớn ảnh hưởng đến cấu trúc quản trị của doanh nghiệp. Ở một mức độ nào đó, DNNN buộc phải minh bạch hơn. Tuy nhiên, nếu như cổ phần hóa chỉ dừng ở một tỉ lệ thấp, mối lo về quản trị có lẽ vẫn còn nguyên đó. 
Có thể nói những TĐ, TCT dự định tiến hành cổ phần hóa trong thời gian tới sẽ chưa thật sự mang lại những thay đổi đáng kể về chất. Trong số 24 công ty mẹ của các TĐ, TCT 91 sẽ chỉ có chín công ty mẹ được cổ phần hóa. Nhưng ngay tại các công ty mẹ cổ phần hóa, Nhà nước cũng áp đặt những mức nắm giữ rất cao 51%, 65%, 75%, thậm chí 97%.

Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, DNNN hậu cổ phần hóa vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể về quản trị doanh nghiệp. Hội đồng quản trị của các DNNN đã cổ phần hóa mà Nhà nước nắm quyền chi phối chủ yếu vẫn bao gồm các công chức có quyền, lợi ích gắn với bộ máy điều hành hoặc kiêm nhiệm các vị trí điều hành doanh nghiệp.
Cụ thể, trên 80% doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần chi phối có thành viên HĐQT đồng thời kiêm nhiệm chức năng điều hành doanh nghiệp. Chính vì vậy nên việc điều hành doanh nghiệp không đảm bảo được tính độc lập, khách quan và điều kiện để bảo đảm lợi ích của các bên có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của các cổ đông tư nhân thiểu số.
Đây chính là điều các tổ chức quỹ đầu tư ngần ngại góp vốn vì họ sẽ khó có được ý kiến quyết định dù có tham gia HĐQT.
Một vấn đề quản trị nữa của các công ty mẹ trong các TĐ, TCT hậu cổ phần hóa là thiếu hụt nhân sự chất lượng cao điều hành doanh nghiệp. Do Nhà nước là chủ sở hữu chi phối doanh nghiệp nên hầu hết vị trí trong HĐQT, ban giám đốc đều được Nhà nước bổ nhiệm.
Đa số những người được bổ nhiệm này đều xuất thân là công chức, viên chức nhà nước thiếu kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, và đương nhiên không có những trải nghiệm xương máu trên thương trường.
Trong khi các TĐ tư nhân sẵn sàng thuê các CEO giỏi, kể cả người nước ngoài, để điều hành doanh nghiệp của mình (*), cho tới nay chưa có một công ty mẹ của TĐ, TCT đã cổ phần hóa nào dám làm như vậy.
Một trong những cản trở lớn nhất trong việc thuê CEO giỏi ngoài hệ thống là những quy định hạn chế về quyền hạn của CEO trong TĐ, TCT. Do trên thực tế các quyền bổ nhiệm nhân sự vẫn do Đảng chi phối và việc điều hành kế hoạch kinh doanh lại bị ảnh hưởng bởi các nhiệm vụ chính trị xã hội Nhà nước giao nên cho dù có thuê CEO nước ngoài thì họ cũng khó có thể có thực quyền điều hành doanh nghiệp. 
Đó là chưa kể đến chế độ lương thưởng kém linh hoạt ở các TĐ, TCT đã cổ phần hóa. Tuy không bị chi phối bởi mức lương 36 triệu đồng/tháng giống như các TĐ, TCT 100% vốn nhà nước, nhưng thực tế ở các TĐ, TCT đã cổ phần hóa vẫn xây dựng quy chế lương dựa trên quy định của Nhà nước.
Điển hình như TĐ Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), báo cáo thường niên cho thấy quỹ lương của ba giám đốc của TĐ trong năm 2013 chỉ vào khoảng 60 triệu đồng/người/tháng, tương đương lương ở các TĐ, TCT chưa cổ phần hóa.
Thay đổi được tư duy của đội ngũ lãnh đạo mới mong doanh nghiệp lột xác sau cổ phần hóa. Ví dụ điển hình có thể nêu là trường hợp ở Vinamilk, dám thuê nhân sự cao cấp và cho hưởng những chế độ ưu đãi vượt trội nhằm làm xoay chuyển tình thế và xây dựng một hướng đi rõ ràng cho doanh nghiệp.
Một trong những vấn đề của cổ phần hóa DNNN Việt Nam chính là tỉ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước sau khi tái cơ cấu doanh nghiệp vẫn còn quá cao so với các nền kinh tế khác trên thế giới, cụ thể là các nước có nền kinh tế chuyển đổi giống Việt Nam như Gruzia, Ukraine...
Để tránh việc nhà nước nắm giữ quá nhiều cổ phần khiến cho doanh nghiệp hoạt động kém năng động, hiệu quả nhưng vẫn có thể kiểm soát nhằm ngăn chặn sự thâu tóm của các công ty nước ngoài trong các lĩnh vực liên quan tới lợi ích quốc gia như an ninh quốc phòng hoặc trên cơ sở bảo vệ lợi ích công cộng, một số nền kinh tế đã phát triển và áp dụng một số công cụ như: cổ phần ưu tiên (goden share), ổn định cổ đông nòng cốt (stable core of shareholders) và tư nhân hóa một phần doanh nghiệp bằng cách duy trì cổ phần kiểm soát (controlling interest). 
Trong đó, cổ phần ưu tiên được coi là một công cụ đắc lực hiệu quả nếu được sử dụng hợp lý và đúng cách vì cổ phần ưu tiên là một loại cổ phần danh nghĩa cung cấp cho chính phủ quyền hạn đặc biệt và quyền phủ quyết trong các công ty tư nhân hóa hoàn toàn hoặc một phần để bảo vệ các công ty mới được tư nhân hóa khỏi sự thâu tóm gây ảnh hưởng tới an ninh cũng như các lợi ích công cộng cần thiết.
Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ nêu trên luôn được giới hạn ở một mức độ và thời gian cụ thể nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của nó tới thị trường, đơn cử như tại Ý cổ phần ưu tiên chỉ được sử dụng đối với một số ngành công nghiệp chiến lược, hay tại Bồ Đào Nha cổ phần ưu tiên chỉ được áp dụng ở lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng, năng lượng và giao thông vận tải. 
Tại Ba Lan, cổ phần ưu tiên chỉ có tính chất tạm thời và sẽ hết hiệu lực khi các điều khoản cam kết của người mua được thực hiện đầy đủ. 
Một số nhà tư vấn và kể cả tổ chức đầu tư cho rằng trong nhiều trường hợp, không rõ đối tượng đầu tư chiến lược mà nhà nước nhắm đến là ai. Đó có phải là nhà đầu tư nước ngoài hay là các đối tác chiến lược như các ngân hàng thương mại hay tổ chức tín dụng, hoặc đơn giản chỉ là các nhà đầu tư cá nhân ở thị trường nội địa.
Việc không có một chính sách rõ ràng nhằm khuyến khích tới từng đối tượng đầu tư đã hạn chế phần nào khả năng cổ phần hóa của các DNNN.
Các nước phát triển OECD không chỉ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo nhiều ưu đãi về mặt chính sách cho các nhà đầu tư cá nhân trong nước, bởi sự tham gia mạnh mẽ của nhóm đối tượng này trong quá trình tư nhân hóa (cổ phần hóa - theo cách gọi của Việt Nam) DNNN.
Ngay chính các chuyên gia kinh tế cũng phải thừa nhận rằng chính các nhà đầu tư lẻ trong nước mới là nguồn lực chính tác động tích cực tới quá trình cổ phần hóa DNNN của các nước thuộc OECD. Ví dụ, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Đức và Pháp đã đưa ra các hình thức khuyến khích nhằm tạo nhu cầu mạnh mẽ trong việc mua bán và giữ cổ phiếu. Những ưu đãi này bao gồm: giảm giá cổ phiếu, thanh toán từng phần...
Ở Tây Ban Nha, một số công ty cổ phần hóa đã hỗ trợ chống trượt giá cổ phiếu lên đến 10% trong năm đầu tiên.
Rõ ràng cổ phần hóa có tác dụng tốt hơn so với không cổ phần hóa, nhưng cần làm mạnh tay chứ không thể nửa vời. Bởi thực tế một số DNNN nay đã là công ty cổ phần nhưng cách thức điều hành, quản trị không có gì thay đổi. Chẳng hạn, tỉ lệ cổ phần nắm giữ của Nhà nước hiện nay là một vấn đề nhưng không phải là không có khả năng giải quyết. 
Ngay cả khi nắm giữ tỉ lệ cổ phần trên 75% thì Nhà nước vẫn có thể thuê nhân sự giỏi để nâng cao hiệu quả điều hành doanh nghiệp.
Nhà nước cũng có thể cho các cổ đông thiểu số có quyền lực điều hành lớn hơn, còn mình chỉ nắm quyền cổ đông đặc biệt để hưởng lợi tức ưu đãi, cũng như một số quyền phủ quyết liên quan đến thay đổi cơ cấu vốn, thành lập doanh nghiệp con hoặc các hoạt động mua bán sáp nhập, và để các cổ đông tư nhân thiểu số chủ động trong việc tổ chức điều hành doanh nghiệp. 
Như vậy dẫu Nhà nước có hoàn thành được mục tiêu là cổ phần hóa hết các TĐ, TCT thì về thực chất vẫn là “bình mới rượu cũ” khi mà quản trị doanh nghiệp vẫn không thay đổi.
Việt Nam có những yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị rất thuận lợi. Việt Nam sẽ tiếp tục đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tiếp tục cải tổ một cách toàn diện các lĩnh vực luật pháp, hành chính, tài chính. Đồng thời với việc ngày càng nâng cao uy tín và ảnh hưởng trong hiệp hội ASEAN, tham gia APEC và gia nhập WTO, Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối hội nhập, tăng cường quan hệ quốc tế đa phương trong khuôn khổ khu vực và toàn cầu, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa của kinh tế thế giới. Tuy vậy cũng cần nhìn nhận rằng :
- Vietnam Airlines là một Tổng công ty hàng không còn khá non trẻ trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn đang phát triển.
- Giá nguyên liệu ngày càng tăng cao cũng là một khó khăn lớn đối với Tổng công ty hàng không quốc gia Việt Nam. 
- Nguồn vốn đầu tư quá hạn chế so với nhu cầu thực tế dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ so với các hãng hàng không khác trong khu vực và trên thế giới. 
- Vietnam Airlines đang phải cạnh tranh trực tiếp với khoảng hơn 49 hãng hàng không có tên tuổi khai thác thường xuyên và sắp tới là các hãng hàng không khổng lồ của Mỹ
- Từ nay đến năm 2015, chính sách điều tiết của Việt Nam đối với ngành hàng không sẽ theo hướng nới dần sự bảo hộ của Nhà nước, phi điều tiết từng phần trong khuôn khổ ASEAN, tù do hoá trong khuôn khổ APEC, WTO, thị trường vận tải hàng không quốc tế sẽ trở nên mở rộng nhưng cũng cạnh tranh hơn rất nhiều. 
- Các chính sách đối với ngành hàng không chưa ổn định cũng là khó khăn rất lớn cho hoạt động của Vietnam Airlines. 

Hiện tại đại lý Vietnam Airlines đang đẩy mạnh trương trình bán vé tại một số nước như :


Toàn bộ các loại vé máy bay này được đại lý Vietnam Airlines cung cấp để phục vụ cho quý khách hàng có nhu cầu mua vé máy bay .Ngoài việc chú ý đến thị trường và khách hàng truyền thống thì Vietnam Airlines còn mở rộng đường bay của mình đến những nơi nổi tiếng như :

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Thế nào là âm dương, ngũ hành?

Thế nào là âm dương, ngũ hành?
1. Thế nào là "Âm dương"?

Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải làvật chất cụ thể, không gian cụ thể màlàthuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại.

2. Thế nào là "Ngũ hành"?

Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại. Tức năm hành thuỷ, hoả, thổ, mộc, kim. Ðể giúp các bạn dể nhớ ngũ hành tương sinh và tương khắc, chúng tôi nêu thí dụ mộc mạc đơn giản theo vần thơ như sau:

Ngũ hành sinh: thuộc lẽ thiên nhiên.
Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên (thuỷ sinh mộc)
Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hoả)
Tro tàn tích lại đất vàng thêm (hoả sinh thổ)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim)
Kim loại vào lò chảy nước đen (kim sinh thuỷ)
Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay
Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc thổ)
Ðất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thuỷ)
Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (thuỷ khắc hoả)
Lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hoả khắc kim)
Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc)

Thuyết âm dương

Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).

Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.

Ðể biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương".

Âm dương không phải làthứ vật chất cụ thể nào màthuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.

Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.

Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được qui vào âm dương.

Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.

Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.

Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm.

(Trích "Cây thuốc vị thuốc VN." của Ðỗ tất Lợi)

Thuyết ngũ hành

Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đã giới thiệu trong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.

Ngũ hành là: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.

Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ cho 5 chất phối hợp nhau mà tạo nên.
Theo tính chất thì thuỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống. Hoả là lửa thì bùng cháy, bốc lên.

Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim làkim loại, thuận chiều hay đổi thay.
Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.

Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ. Tương sinh, tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật.

Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Ðem ngũ hành lien hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau.

Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ.

Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau.

Luật tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong qui luật tương khắc thì mộc khắc thổ, thổ lại khắc thuỷ, thuỷ lại khắc hoả, hoả lại khắc kim, kim khắc mộc, vàmộc khắc thổ và cứ như vậy lại tiếp diễn mái.

Trong tình trạng bình thường, sự tưong khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì làm cho sự biến hoá trở lại khác thường.

Trong tương khắc, môĩ hành cũng lại có hai quan hệ:Giữa cái thắng nó và cái nó thắng. Ví dụ mộc thì nó khắc thổ, nhưng lại bị kim khắc nó.

Hiện tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển.

Luật chế hóa: Chế hoá làchế ức vàsinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau.

Lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau.

Quy luật chế hoá ngũ hành là:

Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
Hoả khắc kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả.
Thổ khắc thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộckhắc thổ.
Kim khắc mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim.
Thuỷ khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ.

Luật chế hoá làmột khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Coi bảng dưới đây chúng ta thấy mỗi hành đều có mối liên hệ bốn mặt. Cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó vàcái bị nó khắc.

Ví dụ: Mộc khắc thổ nhưng thổ sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như nếu mộc khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là kim tất nhiên nổi dậy khắc mộc kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là bản thân cái bị có đầy đủ nhân tố chống lại cái khắc nó. Cho nên, mộc khắc thổ làđể tạo nên tác dụng chế ức, mà duy trì sự cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự giữ gìn thế cân bằng trong thiên nhiên.

Cũng trong bảng quan hệ chế hoá, chúng ta thấy mộc sinh hoả; nếu chỉ nhìn hành mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là hoả, nhưng nhờ có hoả mạnh, hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc mộc. Như vậy mộc sinh con là hoả, nhưng nhờ có con là hoả mạnh mà hạn chế bớt kim làm hại mộc do đó mộc giữ vững cương

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

CÓ NÊN TIN VÀO SỐ MỆNH HAY KHÔNG?


Quan Điểm Của Đạo Phật Về Vấn Đề Này Như Thế Nào ?

Con người có số mệnh hay không ? Có nên tin vào số mệnh hay không ? Thái độ của các triết gia và của các tôn giáo lớn đối với vấn đề số mệnh như thế nào, và đặc biệt là đạo Phật, một trong những tôn giáo lớn của thế giới và là tôn giáo lớn nhất, có số tín đồ đông nhất ở nước ta hiện nay, quan niệm vấn đề số mệnh như thế nào ? Đó là nội dung chủ yếu của bài này. Hy vọng qua đây có thể giải đáp được một vài bức xúc chủ yếu của đông đảo quần chúng hiện nay về vấn đề này.

Trong cuộc sống xã hội đầy bất trắc, và đặc biệt là trong thời gian chiến tranh có rất nhiều chuyện xảy ra, có thật không hư cấu, khiến người ta tin là có số mệnh. "Nhanh cũng chết, chậm cũng chết, may thì sống", đó là câu thường được nói tới trong suốt thời gian binh lửa , khi giữa cái chết và cái sống, khoảng cách chỉ là một tích tắc đồng hồ hay là một sợi gang sợi tóc. Trong một bối cảnh xã hội và đất nước đầy bất trắc, dầu sôi lửa bỏng đến như vậy, số người tin vào chuyện tướng số, bói toán, cầu đảo phải rất nhiều, và ngày càng nhiều.

Vậy có cơ sở đạo lý gì cho tất cả những chuyện này hay không ?

Con người là sinh vật có lý trí, đối với những tai họa lớn giáng vaò một đất nước, một vùng, một dân tộc, hay một cá nhân, nhấât là những trường hợp đột tử xảy ra cho một người hay một số người… con người không thể tin đó là ngẫu nhiên mà tin là có sự tác động của những nguyên nhân sâu xa, có thể là siêu nhiên, mà trình độ hiểu biết hiện nay của con người không giải thích được.

Tôi có người bạn cũ là anh Vũ Thơ, một lần, anh tâm sự : Có chuyện xảy ra ngay trong tỉnh mà tôi phụ trách, khiến tôi nghi rằng có một cái gì đó không phải là vật chất đứng đằng sau những chuyện đó. Chuyện như sau :

"Tại một xã gần Quốc lộ số 1 nối liền Hà Nội với tỉnh lỵ Ninh Bình, có một cô gái xưa nay vẫn lười biếng, không hay đi làm. Thế mà một hôm, mặc dù trời mưa lớt phớt, cô lại ra đồng làm cỏ sớm hơn mọi người. Một chiếc ô tô con chạy nhanh trên đường quốc lộ, không hiểu sao trượt bánh, băng ngang qua đường rơi vào đúng chỗ cô gái đang làm cỏ, nhận cô ta xuống bùn chết liền. Tôi đích thân đến xem nơi xảy ra tai nạn. Từ chỗ cô gái làm cỏ đến vệ đường cũng phải đo được gần chục thước, chiếc ô tô phải chạy nhanh lắm mới có thể băng qua gần 10 mét được. Tại sao lại xảy ra chuyện như vậy nhỉ, một cô gái hằng ngày vẫn lười không đi làm, tại sao đúng hôm nay lại đi làm trước mọi người ngay trong khi trời đang mưa lớt phớt…"

Còn bao nhiêu chuyện nữa, cũng vô lý tương tự như chuyện cô gái làm cỏ, xảy ra trong và sau thời gian chién tranh của thập niên 60 và 70, làm mọi người dù là duy vật cũng phải tin vào số phận hay số mệnh.

Cơ quan thủy sản của Hải Phòng trước đây là một ngôi nhà bốn tầng, tôi đã từng đến thăm trong thời gian có chiến dịch máy bay Mỹ dội bom miền Bắc. Một quả bom xuyên đã rơi trúng cơ quan thủy sản, vì là quả bom xuyên, nên nó xuống tận hầm mới nổ, khiến cho những người nào nhanh chân chạy xuống hầm trước thì đều chết. Trái lại những người còn chậm chân ở tầng ba, tầng hai thì lại không can gì, mặc dù ai cũng đều hú vía.

Tôi có một anh bạn tên Sự, nguyên là Vụ trưởng Vụ Tài vụ của Bộ Công nghiệp nặng, khi Bộ này chưa tách thành nhiều Bộ anh có một cái hầm bê tông ở gần nhà, có thể nói là an toàn 100% để tránh máy bay. Không may cho anh bạn tôi là hôm ấy anh có xuống hầm khi máy bay đến, nhưng lại ngồi ở cửa không chịu vào sâu bên trong hầm như vợ và các con của anh. Máy bay Mỹ thả một quả bom tạ vào nhà máy điện Yên Phụ nhưng không trúng, bom nổ gây một chấn động dữ dội, anh Sự ngồi ở cửa hầm đầu đập vào thành bê tông, bị vỡ sọ chết ngay tức khắc. Anh đã chết ở nơi an toàn nhất, làm sao hiểu được ?

Vì vậy mà ở miền Bắc, trong thời kỳ máy bay Mỹ ném bom dữ dội đã lưu hành câu nói ở cửa miệng nhiều người : "Nhanh cũng chết, chậm cũng chết, chỉ có may thì sống".

Cái may đó phải chăng là số mệnh hay số phận ? Các triết gia các tôn giáo cổ kim nhận thức vấn đề số mệnh và số phận như thế nào ?

I Các thuyết túc mệnh luận, định mệnh luận, thiên mệnh luận :

Nói chung, tất cả mọi thuyết dẫn tới thái độ yên phận và tiêu cực của con người đều thiếu giá trị nhân bản, dù chúng mang bất cứ nhãn hiệu nào.

Túc mệnh luận là thuyết cho rằng số phận con người là do quá khứ an bài, xếp đặt tất cả, mọi cố gắng hay nỗ lực của con người đều vô ích, như dân gian từng nói :
Con vua rồi lại làm vua,
Con sãi ở chùa lại quét lá đa…

Những người ở Trung Quốc xưa hay nói câu : "Nhất ẩm nhất trác, mặc phi tiền định", nghĩa là ăn một miếng, uống một chén, không gì là không do quá khứ quyết định trước. Có thể nói, đó là những người theo túc mệnh luận cực đoan.

Định mệnh luận cũng là túc mệnh luận, nhưng cường điệu tính chất bất khả kháng của số mệnh. Ý nói, số mệnh là quyết định, mọi cố gắng của con người đều vô ích.

Thiên mệnh luận có nhiều nghĩa, không phải nghĩa nào cũng sai. Nếu hiểu thiên mệnh là thiên đạo, tức là đạo Trời, là luật tắc tự nhiên, áp dụng vào thế giới của nhân sinh thì không có gì sai. Phải chăng, đó là ý tứ của Khổng tử trong Luận ngữ : "Ngô… ngũ thập nhi tri thiên mệnh" – "Ta… năm mươi tuổi thì biết mệnh Trời". Nếu hiểu mệnh Trời là số mệnh mà ông Trời quy định cho mình thì đó là số mệnh luận, hay đúng hơn là thiên mệnh luận, và tất nhiên là Phật giáo sẽ bác bỏ thuyết đó. Nhưng Tống Nho Chu Hy lại giải thiên mệnh như là "nguyên lý vận hành và biến hóa của tự nhiên", thì đây không phải là số mệnh luận. Nhưng vấn đề còn tùy thuộc ở phái Tống Nho hiểu luật tắc tự nhiên như thế nào.

Ở chương XVI cuốn "Đạo đức kinh", Lão Tử cũng nói "Phục mệnh", nhưng trong văn cảnh của chương này, thì mệnh ở đây rõ ràng chỉ có nghĩa là đạo, chứ không phải là số mệnh.

"Phù vật vân vân, các phục kỳ căn, quy căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh" – "Muôn vật phồn thịnh, mỗi vật đều trở về cội gốc của mình , trở về cội gốc thì gọi là tĩnh, tức là trở về với mệnh".

Rõ ràng, Lão Tử dùng từ mệnh ở đây không phải với nghĩa số mệnh, mà với nghĩa đạo,tức là cội nguồn của trời đất, muôn vật.

Trong Thần hệ của Hy Lạp cổ đại có thần số mệnh gọi là Fate, mà cả đến Zeus, vị thần tối cao đứng đầu các vị thần, cũng phải e dè, nể sợ. Như vậy người Hy Lạp cổ đại tin rằng tất cả các vị thần, kể cả Zeus cũng phải phục tùng số mệnh.

Niềm tin ở số mệnh phổ biến như vậy, lan tràn như vậy, từ xưa tới nay, từ Tây sang Đông, thì phải chăng niềm tin đó có đạo lý của nó, cơ sở khoa học khách quan của nó ?

Người Pháp có câu : "L’homme propose, Dieu dispose" (Người kiến nghị nhưng Thượng đế bác đi).

Đây cũng là một biểu hiện rõ nét của thuyết mà Phật giáo thường gọi là Thần ý luận, khẳng định mọi sự việc diễn biến trong thế gian này đều do ý muốn của Thượng đế, và ý muốn đó là siêu việt, vượt trên tầm hiểu biết của con người, cho nên con người chỉ nên phục tùng, không những không được chống đối mà còn phải cảm tạ và tri ân Thượng đế.

Thiên mệnh luận cũng là số mệnh, nhưng số mệnh được nhân cách hóa thành Thượng đế hay là số mệnh do một nhân cách siêu nhiên an bài, xếp đặt. Cái nguy của thuyết này là một mặt khiến cho con người ta an phận thủ thường, mất hết ý chí phấn đấu, mặt khác lại khiến cho con người trốn tránh trách nhiệm của mình, thậm chí mình giết người, đoạt của, nhưng lại tự an ủi : đó là do Thượng đế muốn như vậy, đó là ý chí huyền nhiệm của Thượng đế.

Phật giáo tôn trọng tất cả các tôn giáo bạn, kể cả những tôn giáo công nhận có Thượng đế tạo thế. Đó là đường lối thủy chung như nhất của Phật giáo từ xưa đến nay, ở nước ta cũng như ở các nước Phật giáo khác. Tính bao dung về mặt tư tưởng vốn là một đặc tính của Phật giáo mà các nhà tôn giáo học trên thế giới đều công nhận, nhưng điều này không có nghĩa là Phật giáo chấp nhận, không phản đối một số quan điểm của những tôn giáo đó về vũ trụ và nhân sinh.

II. Một số tôn giáo và vấn đề số phận, hay số mệnh :

1.Tôn giáo Hy Lạp cổ đại :

Trong tư tưởng của Hy Lạp cổ đại, vấn đề số phận (fate) chiếm vị trí quan trọng và được biểu trưng bằng ba nữ thần ngồi dưới một gốc cây ở trung tâm trái đất và quyết định số phận của mỗi người. Vị nữ thần thứ nhất có tên Clotho, làm nhiệm vụ kéo sợi đan thành số phận cho mỗi người. Vị nữ thần thứ hai có tên là Lachesie làm nhiệm vụ phân phối số phận cho mỗi người. Vị nữ thần thứ ba có tên là Atropos, làm nhiệm vụ cắt đứt số phận của mỗi người, tức là quyết định người nào phải chết và chết lúc nào.

Tư tưởng số phận đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật kịch Hy Lạp cổ đại. Trong các bi kịch của Sophocle, thầy bói (Oracle) làm chức năng thông tin cho con người biết số phận của mình, như là một cái gì đã được quyết định trước rồi. Đặc biệt là hoàn cảnh chết của mỗi người là do số phận đã được quyết định như nội dung vở kịch Oedipe cho thấy.

Trên đây đã nói về tư tưởng số phận hay số mệnh trong tư tường Hy Lạp cổ đại, như trong các tác phẩm của Homer cho thấy, qua ba nữ thần số mệnh nói trên đây, tuy Homer thường dùng từ số phận hay số mệnh theo số ít, nhằm biểu trưng cho một sức mạnh siêu nhiên, siêu việt lên trên ý chí con người.

2. An Độ giáo và vấn đề số mệnh :

An Độ giáo như là tôn giáo thường nói tới một số thần linh như Vishnu, Siva, Kali có khả năng quyết định số phận của mỗi cá nhân tín đồ, thậm chí đôi khi ngược lại với hướng của nghiệp do cá nhân đó tạo ra.

Nhưng Aán Độ giáo còn nói tới hai yếu tố khác, cũng quyết định đời sống của con người là nghiệp (Karma) và thời. Yếu tố nghiệp cũng tương tự như khái niệm nghiệp của đạo Phật, nhưng không triệt để và nhất quán bằng đạo Phật. Vấn đề này sẽ được bàn kỹ trong phần "đạo Phật thay thuyết số mệnh bằng thuyết nghiệp".

Còn yếu tố thời của An Độ giáo cũng tương đương như yếu tố thời trong Dịch học của Trung Quốc vậy.

Nói chung, trong văn chương của An Độ giáo, cả ba yếu tố thần linh, nghiệp (Karma) và thời đều được nhắc tới. Thí dụ, trong cuốn thánh ca nổi tiếng "Bhagavad Gita", khi hoàng tử Arjuna do dự không muốn xung trận vì kẻ thù không ai khác mà chính đều là bà con, họ hàng thân thưộc, thì thần Krishna đóng vai trò người lái binh xa cho Arjuna, đã hiện nguyên hình và giảng giải cho Arjuna là phải xung trận, vì số phận của kẻ thù là bị tiêu diệt. Nội dung của tập thánh ca "Bhagavad Gita" cho thấy, chi phối sự diễn biến của tình hình là ý chí của thần Vishnu cộng với sức mạnh của nghiệp (karma).

Nói chung, phần lớn những người theo Aán Độ giáo đều tin những sự kiện chủ yếu của cuộc đời, như thân phận tái sanh, sức khỏe nói chung, người vợ tương lai hay chồng tương lai, số con và giới tính của con, thời điểm chết đều là những sự kiện được xác định trước bởi nghiệp (karma), hình thành từ trong đời sống quá khứ.

Một số tín đồ Aán Độ giáo tin rằng, sự cố hay là tác động của một thần linh, có thể đem lại cái chết đột tử cho một người nhất định, và trái lại, việc xuất gia, sống lánh ở một thánh địa rất có thể thay đổi số phận của một con người.

Ở Nam Aán, trong vùng cư trú của người Tamils người ta tin rằng số phận một con người đã được an bài sẵn khi mới sanh và được ghi trên trán bằng những dấu hiệu đặc biệt mà chỉ có những thầy xem tướng giỏi mới giải mã và biết được.

3. Do Thái giáo và vấn đề số mệnh:

Người Do Thái cổ đại tin là những sự kiện lớn của lịch sử dân tộc Do Thái đều do Thượng đế an bài sẵn, mà dân tộc Do Thái phải phục tùng. Quân đội ngoại quốc xâm lặng Israel, chiếm cứ Israel, đày biệt xứ dân Do Thái đi nơi khác, như là đế quốc Assiri, và Babylone và sau này đế quốc La Mã từng làm, tất cả những tai họa đó giáng xuống đầu dân Do Thái đều không phải ngẫu nhiên mà là do dân Do Thái đã không trung thành với liên minh mà tổ tiên họ là tiên tri Moise, đã thay mặt họ, ký kết với Yahve trên núi Sinai… Như vậy là số phận của một dân tộc Do Thái, do hai yếu tố quyết định : một là những việc làm của bản thân dân tộc đó, phản bội lại liên minh với Thượng đế. Yếu tố thứ hai là sự trừng phạt của Thượng đế để đối với dân tộc Do Thái. Đó là sự can thiệp của một lực lượng siêu nhiên, siêu việt lên ý chí của con người. Có thể nói, đây là số phận hay số mệnh của dân tộc Do Thái đã được Thượng đế Yahve lựa chọn để truyền bá chân lý của đạo Do Thái cho loài người.

4. Đạo Hồi và vấn đề số phận :

Từ Ả Rập maniyab là số phận hay số mệnh xuất hiện trong thơ ca Ả Rập ngay trước thời Mahomad. Con người có thể chết vì sự cố, trong chiến tranh hay là vì bệnh tật, nguyên nhân sâu xa của cái chết đó là do tiền định. Nhưng sức mạnh gì quyết định sự kiện cái chết của một con người ? Là Thượng đế Allah chăng hay là số phận, như là một sức mạnh không bị nhân cách hóa. Điều này không rõ trong văn chương Ả Rập, bởi lẽ không phải thi sỹ Ả Rập nào cũng tin đạo Hồi, vì đạo Hồi mãi tới thế kỷ VII sau dương lịch mới xuất hiện.

Thế nhưng trong phạm vi đạo Hồi, nhất là trong kinh Coran, thì mọi sự kiện, thậm chí mọi hoạt động trong đời sống của một tín đồ đạo Hồi đều do Thượng đế Allah an bài, chứ không phải do số phận hay là số mệnh. Ngày tận thế cũng do Thượng đế Allah quyết định, ý chí loài người không dự phần trong việc này.

Tuy nhiên các nhà Thần học Hồi giáo về sau có xu hướng giảm bớt tính tuyệt đối của sự can thiệp của Thượng đế vào đời sống con người, và dành một phạm vi nhất định cho hoạt động của ý chí tự do.

Hình như các tôn giáo thần quyền, ngày càng thiên về thuyết không phải Thượng đế an bài và quyết định tất cả, và con người dù là sản phẩm do Thượng đế tạo ra, nhưng vẫn có một phạm vi ý chí tự do nào đó, khiến nó có thể phạm sai lầm và chịu sự trừng phạt của Thượng đế, điển hình là nhân vật Adam của đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa, tuy do Thượng đế tạo ra nhưng vẫn ăn trái cấm, ngược với lời dạy của Thượng đế… Do đó mà phạm tội gốc, tức là nguyên tội.

Có thể nói, trong các thuyết của các tôn giaó lớn, chỉ có thuyết Karma (nghiệp) của Aán Độ giáo là tương đối gần gũi (chứ không phải đồng nhất) với thuyết nghiệp của Phật giáo. Tuy nhiên, cần nhớ rằng Phật giáo nói nghiệp, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh tính bất điïnh của nghiệp, nghiệp là có thể chuyển được. Người là chủ nhân đồng thời cũng là thừa tự của nghiệp (trung bộ
III, Kinh "Tiểu nghiệp phân biệt).

5. Dịch học và số mệnh :

Phật giáo có phản đối các chuyện như là xem tướng số, bói toán hay không ?

Xin trả lời rằng, vấn đề cơ bản của Phật giáo là giác ngộ và giải thoát, không phải là tướng số vá bói toán. Vì vậy mà trong kinh Di Giáo, ngay trước khi nhập Niết bàn, đưc Phật từng khuyên học trò mình là Tăng sĩ, không nên bói toán và xem tướng số. Trong năm môn học được giảng dạy ở các trường đại học Phật giáo trước đây ở Aán Độ không có môn tướng số và bói toán, tuy có dạy các môn thể học như là thanh minh (ngôn ngữ), Công xảo minh (tiểu thủ công nghệ), Y phương minh (chữa bệnh) Nhân minh (logic học)…


Về Dịch học Phật giáo cũng không phản đối dịch học như là một bộ môn Triết học của Trung Hoa, do các bậc thánh Trung Hoa thời xưa là Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, và Khổng Tử sáng lập và hoàn chỉnh. Nhưng Dịch học, theo bản ý của các bậc thánh, đó không phải là môn học bói toán, mà là một môn triết học bàn về đạo lý thịnh suy, lành dữ, hạnh và bất hạnh của cá nhân và xã hội, đất nước ; và tinh thần của Dịch học là đức năng thắng số chứ không phải là con người phục tùng số mệnh. Tôi tuy không phải là người nghiên cứu chuyên môn về Dịch học, nhưng cũng có nghiên cứu qua sách dịch, không phải là để xem chơi như vua Trần Nhân Tôn nói trong chương I, bài phú Cư Trần lạc đạo (1) mà vì có giảng về triết phương Đông ở một số trường đại học và ở học viện Phật giáo. Tuy chỉ có biết đôi chút về Dịch học, nhưng với cái sở học của mình, cũng thấy được bản ý của các bậc Thánh lập ra môn Dịch học không phải là bói toán. Trái lại, bói toán chỉ làm dung tục hóa môn Dịch học mà thôi. học giả Trung Hoa Phó Lệ Pháp trong cuốn "Quốc học khái luận" (Đài bắc xuất bản, trang 40) viết rất đúng : "Bản ý của Văn Vương làm Chu Dịch là để dạy người cái đạo lý trị loạn, thịnh suy, được mất. Người đời sau dùng để bói toán, thực không phải là bản ý của Văn Vương" (2).

Hơn nữa, nếu chúng ta xem kỹ một số lời giải các quẻ của Văn Vương hay các lời giải các hào của Chu Công thì chúng ta sẽ thấy các bậc thánh này nhấn mạnh vai trò của đức, của nỗ lực đạo đức cá nhân hơn là số. Nghĩa là dù gặp phải cảnh ngộ khó khăn, gian khổ, nhưng nếu biết giữ đức hạnh, sống chính đáng thì dữ biến thành lành, hung biến thành cát. Rõ ràng, đó là quan điểm đức năng thắng số tuy các bậc Thánh không nói rõ như vậy.

Để minh họa, có thể dẫn chứng câu sau đây trong Văn Ngôn truyện một cuốn sách chủ yếu giaỉ thích hai quẻ Càn và Khôn : "Tích hiện chi gia tất hữu dư hương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương…" Nghĩa là nhà tích chứa nhiều điều thiện thì sẽ có thừa điều lành, nhà tích chứa nhiều điều ác thì sẽ gặp nhiều chuyện dữ…

Gia đình như vậy, cá nhân cho tới đất nước, xã hội đều như vậy. Trị nước mà tàn bạo, hà hiếp, bóc lột dân quá đáng thì dân sẽ làm loạn. Cá nhân sống ác, thì gặp nhiều bất hạnh, nếu làm thiện thì sẽ gặp may mắn, đó là đạo Trời, là luật tắc tự nhiên. Dịch học tuy bàn chuyện hưng vong, thịnh suy và đắc thất nhưng cuối cùng vẫn khẳng định con người sống phải có đức, trị nước cũng phải có đức, thì mọi việc mới thông suốt, hài hòa (sách dịch dùng các từ hanh thông) chính đáng, bền vững (sách dịch dùng các từ lợi, trinh).

III. Phật giáo dùng thuyết nghiệp thay cho thuyết số mệnh :

1. Nghiệp là gì ?

Nghiệp là hành động có dụng tâm, hành động mà không có dụng tâm thì không phải là nghiệp theo đúng nghĩa của từ này. Một người lái xe không cẩn thận cán chết người. Người đó có thể mang tội ngộ sát, phải trả tiền bồi thường và ngồi tù. Nhưng thật ra, anh ta không có tạo nghiệp sát sinh, anh ta chỉ là một cái duyên, hay là một điều kiện trong kết cuộc như vậy. Lạnh lùng mà nói, tình hình đích thực là như thế, nếu chúng ta có một nhận thức sâu sắc về thuyết nghiệp.

Trong đời này, không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên hết, mọi sự việc, quá trình xảy ra đều có nhân duyên của nó. Có đủ nhân, đủ duyên và đúng thời, từ sự việc xảy ra tốt hay xấu, lành hay dữ, may mắn hay bất hạnh. Mọi sự việc xảy ra đều tương ứng với nhân duyên đã tạo ra nó từ trước. Và đây là nghiệp, chứ không phải là số mệnh.

2. Dẫn nghiệp và mãn nghiệp – hai loại nghiệp quan trọng nhất :

Nghiệp có nhiều loại nhưng Phật giáo thường chú ý hai loại chính là dẫn nghiệp và mãn nghiệp. Dẫn nghiệp là nghiệp dắt chúng sanh đi vào một trong sáu cõi, trong số này có ba cõi thiện là cõi loài Trời, cõi loài A Tu la và cõi loài người. Ba cõi ác là cõi súc sanh, cõi quỷ đói, và cõi địa ngục. Mắt trần chúng ta không thấy được loài Trời và loài A tu la. Chỉ biết rằng hai loài naỳ có quyền năng và thọ mạng nhiều hơn, dài hơn loài người rất nhiều. Mắt ta không thấy họ, nhưng không phải là họ không tồn tại. Dân gian không biết, gọi họ bằng đủ các thứ tên như thần, tiên, quỷ… Trong các loại chúng sanh sống ở cõi ác, có hai loại mắt người cũng không thấy được là chúng sanh trong loại quỷ đói và chúng sanh trong loài địa ngục. Loài quỷ đói là loài chúng sanh bụng rất to, nhưng cổ họng rất bé cho nên luôn luôn bị đói. Chúng sanh ở địa ngục thì bị khổ triền miên, khổ ở mức loài người không thể tưởng tượng nổi. Còn súc sanh thì rất nhiều loại, không thể kể xuể được, nhưng chúng có đặc tính chung là hay cấu xé lẫn nhau, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Loại súc sanh quen thuộc nhất là gia súc như chó, mèo, gà, lợn, ngựa, trâu. Chúng nó sống khổ thế nào, chúng ta cũng đều biết. Nhưng có điều nhiều người không biết là nếu không sống thiện, không tu tập và sống lối sống ngu si như súc vật thì sau khi chết chúng ta có thể tái sanh vào làm súc vật. Rất có khả năng đó, chúng ta không thể xem thường.

Cho nên, ít nhất chúng ta phải biết cơ chế vận hành của nghiệp, đặc biệt là loại nghiệp gọi là dẫn nghiệp. Mục đích là dùng cơ chế vận hành của nghiệp để cuộc sống chúng ta có ý nghĩa, để cho chúng ta chủ động tạo ra những nghiệp có cường độ mạnh để cho ở đời này, cũng như ở các đời sống sau, chúng ta không bị đọa vào các cõi ác, khổ, mà luôn tái sanh vào các cõi lành, cõi thiện, dẫn chúng ta đến mục đích cao nhất là giác ngộ và giải thoát.

Vì dẫn nghiệp quyết định hướng tái sanh, cho nên cũng có tên gọi là tái sanh nghiệp, với tiếng anh tương đương là Reproductive Kamma. Kamma là tiếng Pàli, nghĩa là nghiệp, còn tiếng Sanskrit tương đương là Karma, một từ mà sách Tây phương rất hay dùng để chỉ nghiệp.

Tái sanh nghiệp hay dẫn nghiệp là những hành động tạo nghiệp có cường độ mạnh hay thiện hoặc bất thiện, quyết định hướng tái sanh của một chúng sanh, cũng như những sự kiện chủ yếu ở đời sau của chúng sanh đó. Sau đây tôi xin đưa vài ví dụ minh hoạ trước hết những hành động tạo nghiệp cực ác, quyết định không tránh khỏi hướng tái sanh của một chúng sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói và súc sanh. Đó là các hành động cố ý giết cha, mẹ, bậc thánh Ala hán,làm chảy máu Phật và phá sự hoà hợp của tăng chúng. Nếu phạm một trong năm nghiệp ác nói trên, thì nhất định phải tái sanh vào cõi sống ác, khổ. Năm trường hợp nói trên là những trường hợp cực đoan, còn nói chung sống buông thả, không giữ năm giới, không làm mười thiện thành thói quen, với tâm ác không biết sửa chữa đều có nguy cơ sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói, và súc sanh, và dù có may mắn được tái sanh làm người thì sẽ là người sống bất hạnh như chết yểu, tật nguyền, hay ốm đau, bị người đời khinh rẻ…

3. Cường độ của nghiệp quyết định ở chỗ dụng tâm :

Yếu tố gì tạo ra cường độ mạnh của nghiệp, khiến cho nghiệp đó quyết định hướng tái sanh của chúng sanh đó. Chủ yếu là dụng tâm khi tạo nghiệp. Thí dụ tạo nghiệp sát với tâm tham, tâm sân. Gần đây báo chí đăng vụ giết người ở cửa hàng vàng Kim Sinh (Hà nội). Kẻ cướp đã giết bốn mạng người một lúc để cướp vàng, đó là ví dụ sát sanh vì lòng tham. Trên báo hằng ngày cũng từng đăng tin một cô gái, chỉ vì ghen tức đối với người con riêng của chồng mình – một cháu bé năm tuổi – đã nhẫn tâm quẳng cháu bé đó xuống sông Hồng. Sát sanh với tâm sân hận và ghen tức là loại nghiệp rất mạnh, có thể khiến kẻ phạm tội đọa vào cõi ác không tránh khỏi.
Đối với thiện nghiệp cũng vậy, cường độ của nghiệp thiện chủ yếu do ở chỗ dụng tâm chứ không phải do ở quy mô và hình thức của sự việc. Trong đạo Phật có câu : Làm việc đạo với cái tâm đời, tức là tâm danh lợi, thì việc đạo biến thành việc đời ; còn làm việc đời với tâm đạo, tức là cái tâm vì lợi ích của đạo và của chúng sanh, thì việc đời cũng biến thành việc đạo.

Quan điểm trên về nghiệp giải phóng những người nghèo hèn khỏi nỗi bức xúc của mình quá nghèo hèn, quá túng thiếu, muốn làm việc thiện, muốn giúp người nhưng không biết xoay xở thế nào.

Trong kinh 42 Chương có nói tới hạnh tùy hỷ bố thí. Đó là hạnh chia xẻ niềm vui với người khác. Nếu sự chia xẻ niềm vui đó là thật lòng, không chút ganh ghét thì công đức của hạnh bố thí tùy hỷ đó cũng là vô lượng, cũng như một ngọn đuốc có thể giúp cho bao nhiêu nhà được thắp sáng, nấu chín cơm, sưởi ấm v.v… mà để bố thí tùy hỷ có cần phải có gì đâu, mà chỉ cần có tấm lòng biết chia xẻ niềm vui của người khác mà thôi.

Đại sư Trung Hoa Trí Khải, trong bài tựa cuốn "Đồng mông chỉ quán" kể trường hợp một Sadi trẻ, ở cùng chùa một vị trụ trì đã chứng quả A la hán. Vị trụ trì chùa xem tướng học trò, biết trong vòng một tuần nữa học trò mình sẽ chết bệnh không thể tránh khỏi, bèn lẳng lặng cho học trò mình về thăm nhà. Anh học trò trên đường về nhà thấy một ổ kiến trên bờ đê đang bị một dòng nước xoáy thốc vào bờ đê, đe dọa cuốn trôi đi. Thầy Sadi trẻ động lòng thương lũ kiến đang nháo nhác, bèn nhảy xuống sông, ra sức hàn lại chỗ đê có thể bị vỡ để cứu ổ kiến. Cứu được ổ kiến, thầy Sadi về nhà. Và sau một tuần trở lại chùa, vị A la hán thấy học trò mình trở lại chùa an toàn, khí sắc lại còn hồng hào hơn xưa, rất lấy làm lạ, hỏi cặn kẽ đầu đuôi chuyện cứu ổ kiến. Vị trụ trì kết luận là do thầy Sadi phát tâm từ bi rộng lớn, cứu ổ kiến cho nên đã chuyển nghiệp, đáng lẽ phải chết trong vòng một tuần lại vẫn sống an toàn và còn tiếp tục sống thọ trong nhiều năm nữa.

Câu chuyện trên cũng tương tự chuyện một bà già ăn mày, sống trong thời Phật ,muốn cúng dường Phật một ngọn đèn mà không đủ tiền để mua dầu. Đi ăn xin, ky cóp mãi mới được một đồng. Nhưng khi đến cửa hàng thì chủ tiệm lại nói một đồng không đủ để mua dầu thắp đèn. Nhưng vì chủ tiệm cảm lòng thành của bà già cho nên vẫn bán. Cuối cùng bà già cũng có được một ngọn đèn cúng dường Phật, không phải đặt trong tịnh xá nơi Phật thuyết pháp, mà chỉ được đặt ở ngoài vườn. Ấy thế mà sau buổi thuyết pháp của Phật, người ta đi dập tắt tất cả ngọn đèn ở trong nhà tịnh xá cũng như ngoài vườn, mọi ngọn đèn đều dập tắt dễ dàng, chỉ riêng ngọn đèn của bà già ăn mày cúng Phật thì người ta thổi mãi, dập mãi mà không làm sao tắt được, cả đến Ngài Mục Kiền Liên, học trò thần thông đệ nhất của Phật cũng bất lực. Được hỏi về sự kiện lạ lùng này, Phật nói đó là sức mạnh lớn lao của lòng chí thành cúng dường Phật của bà già. Với tâm thành lớn như vậy,thì dù là cúng dường một ngọn đèn nhỏ, cũng đem lại cho bà ấy công đức vô lượng, khiến cho chư Thiên cũng cảm ứng, che cho ngọn đèn không bị dập tắt.

Trong lịch sử truyền đạo của đức Phật cũng không hiếm những chuyện minh chứng cho khả năng chuyển nghiệp của những người tuy từng phạm nhiều tội ác trong quá khứ, nhưng sau khi được gặp Phật, được nghe pháp và thành thật ăn năn hối lỗi, cải tà quy chánh, một lòng tin đạo và hành đạo, thì ngay trong đời này cũng chứng được quả Thánh. Đó là trường hợp nổi tiếng của Angulimala, vốn là một tên cướp tàn bạo ở vương quốc Kosala, trường hợp của dâm nữ Ambanali ở Vaisali, cả hai đều xuất gia theo Phật, tu hành không bao lâu đều chứng quả Thánh A La Hán.

Tóm lại dụng tâm là yếu tố quyết định tính chất và cường độ của nghiệp. Dụng tâm trong kinh tạng Pàli còn gọi là tác ý, cho nên Phật giáo định nghĩa nghiệp là tác ý. Khi đã tác ý,theo hướng thiện hay ác, tức là ta đã tạo nghiệp thiện hay ác rồi. Người bình thường không hiểu cơ chế vận hành của nghiệp, cho nên rất hay xem thường, thậm chí ngay đối với lời nói,họ cũng nói một cách vô tâm : Lời nói bay đi, lời nói vô bằng ; không biết rằng ngay những ý nghĩ thoáng qua đầu chúng ta còn là nghiệp , huống hồ là lời nói. Có lẽ, vì để răn dạy người ta đừng nên coi thường sự bất thiện nơi lời nói là đạo Phật phân tích có tới bốn điều bất thiện nơi lời nói là nói dối, nói ác, nói chia rẽ, và nói vô nghĩa ; còn đối với sự bất thiện nơi thân thì có ba là sát sanh, lấy của không cho và tà dâm ; còn sự bất thiện nơi tâm cũng có ba là tham, sân, và si hay tà kiến.

4. Không được coi thường việc nhỏ :

Đức Phật luôn răn dạy con người không nên coi thường những nghiệp thiện hay ác dù là nhỏ, cũng như một đốm lửa nhỏ có thể đốt cháy đống rơm cao như núi, như giọt nước nhỏ mãi rồi cũng làm bình lớn đầy tràn.
Kinh Pháp Cú có các bài kệ :

"Chớ chê khinh điều thiện,
Cho rằng chưa đến mình,
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi bình cũng đầy tràn.
Người chí chứa đầy thiện,
Do chất chứa dần dần"
(Kệ 122, HT. Thích Minh Châu dịch)
Lại viết :
"Chớ chê khinh điều ác,
Cho rằng chưa đến mình,
Như nước nhỏ từng giọt
Rồi bình cũng đầy tràn,
Người ngu chứa đầy ác,
Do chất chứa dần dần"
(121)

5. Lợi ích của việc tu tập tâm :

Tuy nhiên, cần chú ý là theo đạo Phật, dù là nghiệp nơi ý, nơi lời nói hay nơi thân, căn bản vẫn là ở chỗ dụng tâm, ở chỗ chúng ta tu tập tâm hàng ngày, khiến cho tâm ta trở thành thuần thiện, không nghĩ việc ác, chỉ nghĩ điều lành. Một người biết tu tập tâm như vậy, tuy rằng chưa đạt tới đích giác ngộ và giải thoát như các bậc Thánh, Phật hay A la hán, nhưng có thể nói là đã trên con đường thẳng dẫn tới đích giác ngộ và giải thoát tối hậu rồi. Hơn nữa, trên bước đường dài dẫn tới mục đích tối hậu đó, con ngườii thiện nhất định sẽ không bị đọa vào cõi ác.

Kinh Pháp Cú ví người như thế, như bàn tay không thương tích mà cầm thuốc độc vậy, không can gì hết :

Bàn tay không thương tích,
Có thể cầm thuốc độc…
(Kệ 124)

Người ác làm hại người hiền cũng như kẻ ngu ngược gió, mà tung buị, bụi chỉ rơi vào mình mà không dính người :
Hại người không ác tâm
Người thanh tịnh không uế,
Tội ác đến kẻ ngu
Như ngược gió tung bụi….
(Kệ 125, kinh đã dẫn ở trang 75)

Vậy nên, quyết định tính chất và cường độ của nghiệp là cái tâm của mình, là ở trong lòng mình, như thi hào Nguyễn Du đã viết : "Thiện căn bởi tại lòng ta". Tu Phật trước hết và chủ yếu là tu tâm, không phải chỉ vì "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" mà vì đức Phật cũng đã từng khuyến cáo chúng ta :

Kẻ thù hại kẻ thu,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân.
(Kệ 42)
và :
Điều mẹ cha, bà con
Không thể làm được,
Tâm hướng chánh làm được
Làm được tốt đẹp hơn.
(Kệ 43)

6. Vấn đề cộng nghiệp :

Nghiệp là sức mạnh lớn, khi nó là cộng nghiệp của một số người, vì không phải là một mà là một số đông người tạo ra nó, và số đông ấy có thể là cả loài người, cả một quốc gia, dân tộc hay một vùng, một địa phương.

Cộng nghiệp của cả một dân tộc đan xen với biệt nghiệp của từng cá nhân, khiến cho cơ chế vận hành của nghiệp khá phức tạp, mà chỉ có bậc Thánh như Phật mới hiểu được tất cả ngọn ngành chi tiết.

Trong kinh Chép lời Phật :"Với thiên nhãn thuần tịnh, vượt xa tầm nhìn loài người, Ta thấy các chúng sanh chết và tái sanh như thế nào, Ta thấy những người cao quý và kẻ nghèo hèn, kẻ xuất sắc và người bần tiện, mỗi người đều theo nghiệp của mình tạo ra mà có được thân phận hạnh phúc hay bất hạnh".
(Chuyển dịch từ bản tiếng Anh "The Tibetan book of living and dying" của Sogyal Rinpoche, trang 92).

Chúng ta không có được thiên nhãn thanh tịnh để có thể được như Phật nắm bắt được tất cả cơ chế vận hành phức tạp của nghiệp, nhưng tối thiểu chúng ta cũng biết được đại khái, nhưng rất là đúng đắn, rằng : "Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão". Đó là sự minh triết của nhân dân Việt Nam mà tổ tiên, cha ông đã tin theo đạo Phật gần 20 thế kỷ nay rồi, khiến cho một thuyết quan trọng và phức tạp như thuyết nghiệp ảnh hưởng đến tâm lý của dân ta đến nỗi, mỗi lần có sự cố bất hạnh xảy ra cho một người, một gia đình hay thậm chí cả một vùng, chúng ta buột mồm nói : "Tội nghiệp!". Đó là tội của nghiệp, nghiệp báo của từng người và là nghiệp báo chung, gọi là cộng nghiệp, nghiệp của số đông…

Nghiệp chính là quy luật nhân quả tác động trong phạm vi của nhân sinh. Đạo Phật nói quả nào nhân ấy. Một khi quả chín muồi và xảy ra thì chúng ta biết đó không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả hợp thành của những nhân duyên đã từng được tạo ra và nay chín muồi.

Nhưng đạo Phật không nói một cách máy móc : nhân nào quả ấy. Vì sao ? Vì hằng ngày chúng ta không ngừng tạo nghiệp bằng ý nghĩ, lời và thân hành động. Nghiệp này tiếp nối nghiệp kia, nghiệp sau tác động trở lại nghiệp trước v.v…

Chính vì vậy mà đạo Phật không nói số mệnh hay số phận , mà nói bất định nghiệp và chuyển nghiệp. Đó là ranh giới phân biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác, kể cả với Aán Độ giáo, khá gần gũi với Phật giáo, vì Aán Độ giáo cũng nói nghiệp Karma.

Dẫn nghiệp hay cũng gọi là năng sanh nghiệp chỉ là những loại nghiệp có cường độ mạnh, quyết định hướng tái sanh của một chúng sanh. Thí dụ tất cả chúng ta ở đây đều là người. Chúng ta biết chắc là trong đời trước, chúng ta đã tạo ra dẫn nghiệp (hay tái sanh nghiệp) khiến chúng ta có được thân phận người,nhưng giữa chúng ta đã có bao nhiêu sai biệt như già và trẻ, khỏe và yếu, nam và nữ, đẹp và xấu, và mỗi người đều là thành viên những gia đình khác nhau với những cảnh ngộ khác nhau. Do vậy mà ngoài dẫn nghiệp quyết định thân phận là người của chúng ta, chúng ta còn tạo ra một loại nghiệp nữa, có cường độ yếu hơn dẫn nghiệp mà sách Phật gọi là mãn nghiệp (sách tiếng anh dịch là Supportive Karma), cũng có sách khác dịch là năng trì nghiệp.

7. Khái niệm mãn nghiệp :

Mãn nghiệp hay năng trì nghiệp giải thích vì sao cũng là một thân phận người mà có người hạnh phúc, người bất hạnh, người sang, kẻ nghèo hèn ; người thì có uy tín nói ai cũng theo, trái lại có người nói rất giỏi nhưng không ai tin ; người đẹp, kẻ xấu xí, có cô gái đẹp lại lấy phải ông chồng xấu xí, lại có anh chồng xấu xí lại được người vợ đẹp sánh Hằng Nga tái thế v.v… sao lại có những chuyện như vậy ? tất cả những chuyện sai biệt như vậy, đều là quả báo của mãn nghiệp hay là năng trì nghiệp.

Một câu hỏi đặt ra là : loại mãn nghiệp này là bất khả kháng hay có thể chuyển được ? Xin trả lời, thuyết nghiệp của Phật giáo là bất định nghiệp là nghiệp có thể chuyển. Đã có bao nhiêu người sinh ra với sức khỏe rất yếu nhưng nhờ dày công luyện tập mà trở thành lực sĩ. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ có 1/3 lá phổi mà sống đến tuổi hơn 80. Triết gia Đức nói tiếng là Kant, vốn lúc bé rất ốm yếu nhưng nhờ sinh hoạt, làm việc rất đều đặn và có giờ giấc mà sống rất thọ v.v..

8. Khái niệm năng tiêu nghiệp :

Trong Phật giáo có khái niệm gọi là năng tiêu nghiệp, sách Anh ngữ có khi dịch là countereactive karma hay là impeding karma. Loại nghiệp này tùy thuộc vào tình hình mà có thể là tốt hay xấu.
Có thể đưa ra những ví dụ sau đây để minh họa : Một người sinh ra có tư chất thông minh, nói theo danh từ khoa học hiện nay là có gien thông minh. Nhưng người đó lại sinh ra trong một gia đình giàu có, được cha mẹ nuông chìu cho nên không chịu học hành, chỉ suốt ngày chơi bời khiến cho tính chất thông minh bẩm sinh của mình bị thui chột đi, và cuối cùng anh ta trở thành một gã bất tài, vô dụng ở đời. Những loại nghiệp anh ta đã tạo ra đều thuộc loại năng tiêu nghiệp, xâú và tiêu cực, hủy hoại bẩm sinh tính thông minh của anh. Bẩm tính thông minh đó cũng không phải ngẫu nhiên mà chính do anh ta nuôi dưỡng, hun đúc trong một đời trước.
Còn những ví dụ minh chứng các loại năng tiêu nghiệp tích cực thì rất nhiều. Chỉ cần dẫn chứng trường hợp của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hay bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là đủ, vì ai cũng biết đều là chuyện người thật việc thật và gần gũi với mọi người.

9. Dẫn nghiệp có thể chuyển được không ?

Có người thắc mắc, "mãn nghiệp có cường độ yếu nên có thể chuyển được, nhưng dẫn nghiệp có thể chuyển được không ?"

Xin trả lời rằng, dẫn nghiệp cũng có thể chuyển, trong những trường hợp như sau :

Đúng là sau khi đã sanh ra làm người, có thân phận người, thì không thể chuyển được thân phận người thành một thân phận không phải người. Thí dụ như các đạo gia mơ tưởng uống thuốc trường sanh bất lão và bất tử, trở thành thần, thành tiên ngay trong cõi thế này.
Tôi nghĩ rằng bàn những chuyện như thế này là vô ích, vì nếu có một người như Từ Thức chăng thì cũng chỉ là một người. Nên miễn bàn là hơn.

Nhưng đạo Phật có khái niệm "năng hủy nghiệp" để giải thích những trường hợp tuy có người thọ mạng vẫn còn, nghiệp lực của tái sanh nghiệp vẫn còn, nhưng vì những người này trong một đời sống trước hay thậm chí trong đời sống này có tạo ra những nghiệp cực mạnh,có khả năng tiêu hủy thân phận người của họ, thì họ vẫn có thể mất thân phận người như thường. Đó là những trường hợp chết đột tử hay bất đắc kỳ tử, như là trong các trường hợp chết vì thiên tai, chết vì tai nạn máy bay hay xe cộ. Người bình thường gọi đó là những trường hợp ngẫu nhiên bất hạnh, hay là số mệnh. Nhưng theo đạo Phật, đó là nghiệp, là tác động của một loại nghiệp gọi là năng hủy nghiệp, nó tiêu hủy thân phận người ngay khi người đó đang sống bình thường. Người đó, trong một đời sống quá khứ hay thậm chí ngay cả trong đời này, đã tạo ra một loại nghiệp có cường độ mạnh, đủ sức tiêu hủy một dẫn nghiệp được tạo ra trước đó, quyết định thân phận người. Sách Phật thường ví dụ tác động của loại nghiệp này như một cơn gió thổi tắt ngọn đèn, tuy rằng ngọn đèn đó có thừa dầu và bấc.

IV. Con người là chủ nhân của nghiệp :

Xin dẫn chứng lời của Đức Phật trong kinh "Tiểu nghiệp phân biệt" (Trung Bộ III) : "Người là chủ nhân của nghiệp, cũng là thừa tự của nghiệp…" Nghiệp do chính mình tạo ra và nghiệp trở lại chi phối mình. Cũng như Nguyễn Du nói rất đúng trong "Truyện Kiều"

Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Xin đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Chính chúng ta chứ không phải một thần linh nào khác quyết định đời sống chúng ta, và chúng ta quyết định nó bằng hoạt động hàng ngày, hàng giờ, phút trong cuộc sống. Nếu tâm chúng ta hướng thiện thì chúng ta tạo nghiệp thiện, hưởng quả báo thiện trong đời này và đời sau. Quy luật nghiệp báo là quy luật nhân quả, giản dị, không có gì khó hiểu, không cần phải mượn tới sức mạnh của thần linh hay sức mạnh mù quáng của số phận để giải thích. Thuyết nghiệp của đạo Phật không những là khoa học và công bằng nó còn tôn vinh trách nhiệm và giá trị con người. Nó thúc đẩy con người luôn hoàn thiện mình, sống đạo đức, có lý trí và theo lẽ phải. Nó nâng cao giá trị con người chứ không hạ thấp giá trị con người. Nó khích lệ con người hành động và tiến bộ. Nó không dạy con người sống tiêu cực và yếm thế. Thuyết nghiệp của đạo Phật, nếu được lý giải đúng đắn và mọi người hiểu thấu và thực hành sẽ đem lại bao nhiêu tốt đẹp cho xã hội và đất nước chúng ta, trong thiên niên kỷ mới sắp đến này.

Quá khứ đã qua rồi, tương lai lại chưa đến, mọi người chúng ta hãy tỉnh giác và có ý thức sống trong hiện tại từng giờ, từng phút nghĩ lành, nói lành, làm thiện. Đó chính là nghiệp, là thuyết nghiệp không phải trên bình diện lý thuyết mà là trong cuộc sống, trong thực hành.

Triết gia Mỹ William James, chắc là có chịu ảnh hưởng của thuyết nghiệp của đạo Phật, đã nói câu :"Chúng ta đang dệt đời chúng ta bằng một sợi chỉ không tháo gỡ ra được " (Nous tissons notre vie d’un fil qui ne se défera pas).

Câu nói của Nguyễn Du và của William James sẽ hoàn toàn đúng với tinh thần thuyết nghiệp của đạo Phật, nếu thêm đôi điều như sau :

Tuy nghiệp đã mang vào thân rồi, nhưng vẫn gỡ ra được, nếu chúng ta biết ăn năn sửa chữa lỗi lầm, từ nay tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành, giữ tâm ý luôn luôn trong sạch, hướng thiện. Với câu của William James, chúng ta cũng thêm, chúng ta dệt đời chúng ta với sợi chỉ, không phải không tháo gỡ được, mà vẫn có thể tháo gỡ và dệt lại được.

Và theo lời khuyên của hai vị, chúng ta hãy mang trên thân mình toàn là nghiệp lành, hãy dệt đời chúng ta toàn bằng nghiệp lành, nghiệp thiện, trong mỗi ý nghĩ, lời nói và việc làm hàng ngày. Và nhất định, hạnh phúc sẽ đến với chúng ta trong cả đời này và đời sau.
Source: Nguyệt san Giác Ngộ số 48 ---------------
* Chú thích :
Trần Nhân Tông viết :"Sách Dịch xem chơi, yêu tinh sáng, yêu hơn châu báu, kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rỗi, trọng nhữ hoàng kim". Trần Nhân Tông nói là xem chơi, nghĩa là Ngài không lấy sách dịch làm chuẩn.
Văn Vương tác Chu Dịch đích bản chỉ nãi giáo nhân dĩ trị loạn, thịnh suy, đắc thất chi lý, hậu thế dụng dĩ chiêm phệ, thực phi Văn Vương bản ý.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

WEB CỦA BẠN CẦN SEO



SEO là viết tắt của "tối ưu hóa công cụ tìm kiếm" hoặc "tìm kiếm tối ưu hóa động cơ." Quyết định thuê SEO là một quyết định quan trọng có thể cải thiện trang web của bạn và tiết kiệm thời gian, nhưng bạn cũng có thể có nguy cơ thiệt hại trang web và uy tín của bạn. Hãy chắc chắn để nghiên cứu những lợi thế tiềm năng cũng như các thiệt hại mà một SEO tắc trách có thể làm cho trang web của bạn. Nhiều SEO và các cơ quan khác và các chuyên gia tư vấn cung cấp dịch vụ hữu ích cho các chủ trang web, bao gồm:

-Xem lại nội dung trang web của bạn hoặc cấu trúc .
-Tư vấn kỹ thuật về phát triển trang web: ví dụ, lưu trữ, chuyển hướng, trang lỗi, sử dụng JavaScript
-Phát triển nội dung
-Quản lý các chiến dịch phát triển kinh doanh trực tuyến
-Nghiên cứu từ khóa

Chuyên môn tại các thị trường và khu vực địa lý cụ thể.
Hãy nhớ rằng các trang kết quả tìm kiếm của Google bao gồm các kết quả tìm kiếm và quảng cáo thanh toán (ký hiệu là "Quảng cáo" hoặc "Tài trợ") là tốt. Quảng cáo với Google sẽ không có bất kỳ ảnh hưởng đến sự hiện diện của trang web của bạn trong kết quả tìm kiếm của Google . Google không bao giờ nhận tiền để bao gồm hoặc các trang web xếp hạng trong kết quả tìm kiếm của chúng tôi, và nó chi phí không có gì để xuất hiện trong kết quả tìm kiếm của chúng tôi. Nguồn tài nguyên miễn phí như Webmaster Tools, Webmaster blog và diễn đàn thảo luận của Google có thể cung cấp cho bạn rất nhiều thông tin về làm thế nào để tối ưu hóa trang web của bạn để tìm kiếm hữu cơ.

Trước khi bắt đầu tìm kiếm của bạn cho một SEO, đó là một ý tưởng tuyệt vời để trở thành một người tiêu dùng giáo dục và làm quen với cách công cụ tìm kiếm công việc. Chúng tôi khuyên bạn nên bắt đầu từ đây:

Nguyên tắc Webmaster của Google
Google 101: Cách Google thu thập, lập chỉ mục và phục vụ web.

Nếu bạn đang suy nghĩ về việc thuê một SEO, càng sớm càng tốt. Một thời gian tuyệt vời để thuê SEO là khi bạn đang cân nhắc thiết kế lại trang web, hoặc lập kế hoạch để khởi động một trang web mới. Bằng cách đó, bạn và SEO của bạn có thể đảm bảo rằng trang web của bạn được thiết kế để được công cụ tìm kiếm thân thiện từ dưới lên. Tuy nhiên, SEO tốt cũng có thể giúp cải tiến trang web hiện có.

Một số câu hỏi hữu ích để hỏi một SEO bao gồm:

Bạn có thể cho tôi ví dụ về công việc trước đây của bạn và chia sẻ một số câu chuyện thành công?
Bạn có tuân theo Nguyên tắc Webmaster của Google?
Bạn có cung cấp dịch vụ tiếp thị trực tuyến hoặc lời khuyên để bổ sung cho công việc tìm kiếm của bạn?
Những loại kết quả nào bạn mong đợi để xem, và trong khung thời gian? Làm thế nào để bạn đo lường sự thành công của bạn?
Kinh nghiệm của bạn trong ngành công nghiệp của tôi là gì?
Kinh nghiệm của bạn trong quốc gia / thành phố là gì?
Kinh nghiệm của bạn phát triển các trang web quốc tế là gì?
Kỹ thuật SEO quan trọng nhất của bạn là gì?
Bao lâu bạn có được trong kinh doanh?
Làm thế nào tôi có thể mong đợi để giao tiếp với bạn? Bạn sẽ chia sẻ với tôi tất cả những thay đổi bạn thực hiện cho trang web của tôi, và cung cấp thông tin chi tiết về các khuyến nghị của bạn và lý do đằng sau họ?
Trong khi SEO có thể cung cấp cho khách hàng với các dịch vụ có giá trị, một số SEO vô đạo đức đã cho ngành công nghiệp một con mắt đen thông qua các nỗ lực tiếp thị của họ quá tích cực và nỗ lực của họ để thao tác kết quả công cụ tìm kiếm theo cách không công bằng. Thực hành vi phạm nguyên tắc có thể dẫn đến một sự điều chỉnh tiêu cực của sự hiện diện trang web của bạn trong Google, hoặc thậm chí loại bỏ các trang web của bạn từ chỉ số của chúng tôi. Dưới đây là một số điều cần xem xét:

Một lừa đảo phổ biến là việc tạo ra các miền "bóng" chuyển người dùng đến một trang web bằng cách sử dụng chuyển hướng gian lận. Những miền bóng này sẽ được sở hữu bởi các SEO người yêu cầu được làm việc thay mặt của khách hàng. Tuy nhiên, nếu mối quan hệ không tốt, thì SEO có thể chỉ miền tới một trang web khác, hoặc thậm chí đến một miền của đối thủ cạnh tranh. Nếu điều đó xảy ra, khách hàng đã trả tiền để phát triển một trang web cạnh tranh thuộc sở hữu hoàn toàn bởi các SEO.

Một biện pháp là đặt trang "ngõ" nạp với từ khóa trên trang web của khách hàng một nơi nào đó. SEO hứa điều này sẽ làm cho các trang phù hợp hơn cho các truy vấn hơn. Điều này vốn đã sai vì các trang cá nhân ít khi phù hợp cho một loạt các từ khóa. Xảo quyệt hơn, tuy nhiên, đó là những trang ngõ này thường chứa liên kết ẩn cho các khách hàng khác của SEO là tốt. Những trang ngõ này làm mất đi sự phổ biến liên kết của một trang web và định tuyến đến SEO và các khách hàng của mình, mà có thể bao gồm các trang web có nội dung không lành mạnh hoặc bất hợp pháp.

Hãy cảnh giác với các công ty SEO và tư vấn web hoặc các hãng gửi email cho bạn ra khỏi màu xanh.
Thật ngạc nhiên, chúng tôi nhận được các email spam:

"Dear google.com,
Tôi đã đến thăm trang web của bạn và nhận thấy rằng bạn không được liệt kê trong hầu hết các công cụ tìm kiếm và thư mục ... "
Bảo lưu cùng một thái độ hoài nghi đối với email không được yêu cầu về công cụ tìm kiếm như bạn làm cho "đốt cháy chất béo vào ban đêm" viên thuốc ăn kiêng hoặc yêu cầu giúp chuyển tiền từ các nhà độc tài bị lật đổ.

Không ai có thể đảm bảo một thứ hạng chắc chắn trên Google.
Hãy coi chừng các SEO yêu cầu đảm bảo xếp hạng, viện cớ "mối quan hệ đặc biệt" với Google, hoặc quảng cáo "ưu tiên gửi" cho Google. Không có ưu tiên gửi cho Google. Trong thực tế, cách duy nhất để gửi một trang web đến Google trực tiếp là qua trang Thêm URL của chúng tôi hoặc bằng cách gửi một Sơ đồ trang web và bạn có thể làm điều này cho mình ở không mất chi phí gì.

Hãy cẩn thận nếu một công ty bí mật hoặc không giải thích rõ ràng những gì họ dự định làm.
Đề nghị giải thích nếu có điều gì không rõ ràng. Nếu SEO tạo nội dung lừa dối hoặc gây nhầm lẫn thay cho bạn, như các trang ngõ hoặc miền "không dùng nữa", trang web của bạn có thể được xoá hoàn toàn khỏi chỉ mục của Google. Cuối cùng, bạn phải chịu trách nhiệm cho những hành động của bất kỳ công ty bạn thuê, vì vậy tốt nhất để chắc chắn rằng bạn biết chính xác làm thế nào họ có ý định "giúp" bạn. Nếu một SEO có FTP truy cập vào máy chủ của bạn, họ sẽ sẵn sàng để giải thích tất cả những thay đổi mà họ đang làm cho trang web của bạn.

Bạn không bao giờ nên có liên kết đến một SEO.
Tránh các SEO hay nói về sức mạnh của liên kết "miễn phí cho tất cả", liên kết các chương trình phổ biến, hoặc gửi trang web của bạn đến hàng ngàn công cụ tìm kiếm. Đây là những bài học vô dụng điển hình không ảnh hưởng đến xếp hạng của bạn trong các kết quả của công cụ tìm kiếm chính - ít nhất, không phải trong một cách mà bạn muốn coi là tích cực.

Chọn một cách khôn ngoan.
Trong khi bạn xem xét liệu có nên đi với một SEO, bạn có thể muốn làm một số nghiên cứu về ngành công nghiệp. Google là một cách để làm điều đó, tất nhiên. Bạn cũng có thể tìm một số câu chuyện cảnh giác xuất hiện trên báo chí, bao gồm cả bài viết này về một SEO công kích cụ thể: http://seattletimes.nwsource.com/html/businesstechnology/2002002970_nwbizbriefs12.html. Trong khi Google không bình luận về các công ty cụ thể, chúng tôi đã gặp phải các công ty tự gọi mình là SEO người theo thực tiễn rõ ràng là vượt quá giới hạn của hành vi kinh doanh chấp nhận. Hãy cẩn thận.

Hãy chắc chắn để hiểu tiền bạc đi đâu.
Trong khi Google không bao giờ bán xếp hạng tốt hơn trong kết quả tìm kiếm của chúng tôi, một số công cụ tìm kiếm khác kết hợp pay-per-click hoặc trả-cho-với kết quả tìm kiếm web thường xuyên của họ. Một số SEO sẽ hứa xếp hạng cho bạn cao trong các công cụ tìm kiếm, nhưng đặt bạn vào phần quảng cáo chứ không phải trong các kết quả tìm kiếm. Một số SEO thậm chí sẽ thay đổi giá dự thầu của họ trong thời gian thực để tạo ra ảo ​​tưởng rằng họ "kiểm soát" công cụ tìm kiếm khác và có thể đặt mình vào vị trí lựa chọn của họ. Lừa đảo này không làm việc với Google vì quảng cáo của chúng tôi được dán nhãn rõ ràng và tách ra khỏi kết quả tìm kiếm của chúng tôi, nhưng chắc chắn hỏi bất kỳ SEO bạn đang cân nhắc về việc phí nào dung vĩnh viễn và áp dụng quảng cáo tạm thời.

Các vi phạm phổ biến nhất một chủ sở hữu trang web là có thể gặp phải là gì?
Một số thứ khác để tìm cho ra là gì?
Có một vài dấu hiệu cảnh báo rằng bạn có thể đối phó với một SEO rogue. Đó là xa từ một danh sách toàn diện, vì vậy nếu bạn có bất kỳ nghi ngờ, bạn nên tin vào bản năng của bạn. Bằng mọi cách, cảm thấy tự do để đi bộ nếu SEO:

sở hữu miền bóng
đặt các liên kết đến các khách hàng khác của họ trên các trang ô cửa
cung cấp bán từ khóa vào thanh địa chỉ
không phân biệt giữa các kết quả tìm kiếm thực tế và quảng cáo xuất hiện trên trang kết quả tìm kiếm
đảm bảo xếp hạng, nhưng chỉ trên, cụm từ khóa tối nghĩa lâu bạn sẽ nhận được nào
hoạt động với nhiều bí danh hoặc làm sai lệch thông tin WHOIS
được lưu lượng truy cập từ công cụ tìm kiếm "giả", phần mềm gián điệp, hoặc phần mềm đột nhập
đã đã lĩnh vực loại bỏ khỏi chỉ mục của Google hoặc là bản thân nó không được liệt kê trong Google
LIỀN KỀ GREEN PARK VĨNH HƯNG LIỀN KỀ GREEN PARK